Dạy nghề cho người khuyết tật

Just another WordPress site

Author: starh2

Lời khuyên về việc làm cho người khuyết tật

Bạn có biết rằng tháng 10 là Tháng nâng cao nhận thức về việc làm cho người khuyết tật quốc gia không? Trong tháng này, các cá nhân và doanh nghiệp trên khắp Canada sẽ tạo ra các cuộc trò chuyện để giúp nâng cao nhận thức về lợi ích của việc thuê người khuyết tật.

Giới thiệu: Kỹ năng đẩy xe lăn hỗ trợ cho người khuyệt tật

Con số thất nghiệp với người khuyết tật là đáng kể; chỉ một nửa số người khuyết tật Canada được tuyển dụng . Sự kỳ thị của xã hội đối với tình trạng khuyết tật và sự thiếu hiểu biết về trải nghiệm của người khuyết tật, cùng với các tòa nhà và văn phòng công cộng không thể tiếp cận được, là những trở ngại lớn cần phải vượt qua để thay đổi những con số này.

Công việc quan trọng đang được thực hiện trên khắp đất nước để giảm kỳ thị và định kiến ​​và làm cho không gian công cộng dễ tiếp cận hơn, nhưng người khuyết tật có thể làm gì để tìm việc làm bây giờ? Dưới đây là câu chuyện cá nhân của Stephanie Carvalho, Quản trị viên Chương trình Bình đẳng, Đa dạng, Hòa nhập cho Dịch vụ Nguồn nhân lực tại Đại học Alberta, nói về cuộc đấu tranh cá nhân của cô ấy với tình trạng thất nghiệp khi là một phụ nữ khuyết tật, cũng như những lời khuyên và nguồn lực của cô ấy nếu bạn đang gặp khó khăn khi tìm việc.

***

Khi tôi được yêu cầu viết một bài blog về Tháng Nhận thức Việc làm cho Người khuyết tật Quốc gia, tôi rất hào hứng khi nói về chủ đề vô cùng quan trọng về việc làm cho người khuyết tật này. Là một người khuyết tật, cá nhân tôi đã thất nghiệp hai lần và không kiếm được công việc đầu tiên cho đến một năm sau khi hoàn thành bằng cấp ở tuổi 26. Và tôi cũng không đi theo con đường thông thường để tìm việc làm. Tôi đã tham gia một cơ quan việc làm cho người khuyết tật để hỗ trợ tôi tìm việc làm, và sau một năm, họ đã giúp tìm cho tôi một vị trí tình nguyện viên trải nghiệm công việc mà cuối cùng đã trở thành một công việc toàn thời gian có ý nghĩa.

Vào cuối năm 2011, tôi đã tham gia một buổi giới thiệu kinh nghiệm làm việc với Chương trình Công bằng Việc làm trong Dịch vụ Nguồn nhân lực tại Đại học Alberta. Tôi rất vui khi được trở lại trường đại học, nơi tôi đã học hỏi và trải nghiệm rất nhiều khi còn là sinh viên, và muốn đóng góp bằng mọi cách có thể. Vị trí đã mang lại cho tôi kinh nghiệm và kỹ năng thực tế có giá trị, nhưng nó cũng cho phép tôi thể hiện khả năng của mình và thể hiện điểm mạnh của mình. Môi trường tôi đã ở, bao gồm cả sự cố vấn từ cấp trên của tôi, cho phép tôi phát triển như một nhân viên và bổ sung tài năng của mình. Giờ đây, tôi quản lý dữ liệu về sự đa dạng của lực lượng lao động, hỗ trợ nhóm của tôi lập kế hoạch và thực hiện các sự kiện giáo dục, đồng thời tôi cũng đồng tổ chức các hội thảo về quyền con người, tính bền vững, sự đa dạng và hòa nhập tại nơi làm việc.

Mặc dù câu chuyện của tôi kết thúc bằng việc làm kiếm được nhiều việc làm, nhưng điều này không thực sự ảnh hưởng đến trải nghiệm tinh thần và cảm xúc của năm đó, và cảm giác khi liên tục nghi ngờ kỹ năng của mình, cảm thấy tuyệt vọng rằng tôi sẽ không bao giờ kiếm được việc làm và cố gắng mọi thứ và tiếp cận với bất kỳ ai tôi có thể. Tôi không có mạng lưới chuyên nghiệp và phải dựa vào cố vấn của mình tại cơ quan việc làm để hướng dẫn tôi. May mắn là tôi có gia đình ủng hộ, tuy nhiên rất khó để đi làm mà không có kinh nghiệm hay khả năng tiếp cận mạng để đi phỏng vấn.

Tìm hiểu thêm: Đào tạo kỹ năng làm việc với người khuyết tật cho công chức nhà nước 

Kể từ khi tôi bắt đầu làm việc trong các dịch vụ nhân sự, tôi đã có được kinh nghiệm vô giá khi làm việc với nhiều người khác nhau (có và không có khuyết tật) bằng cách giúp họ tìm được những vị trí có kinh nghiệm làm việc như của tôi. Tìm việc làm rất khó và sẽ phức tạp hơn nếu một người phải đối mặt với những rào cản khác như khuyết tật về thể chất, vì vậy tôi  muốn chia sẻ những gì tôi đã học được trong suốt chặng đường và giúp tăng cường sự đại diện của người khuyết tật tại nơi làm việc. Những lời khuyên dưới đây là một điểm khởi đầu và chắc chắn không phải là tất cả những gì có sẵn, nhưng sẽ là một khởi đầu tốt cho việc tìm kiếm việc làm của bạn.

Các mẹo và tài nguyên việc làm cho người khuyết tật:

  • Có ý tưởng về điểm mạnh của bạn và loại môi trường bạn sẽ làm việc tốt nhất (không ai hiểu bạn hơn bạn). Trước tiên, hãy nhớ tham gia vào bản thân và mục tiêu của bạn để giúp thúc đẩy tìm kiếm việc làm của bạn. Nếu bạn thích làm việc trong một môi trường yên tĩnh, công việc tuyến đầu có lẽ không dành cho bạn. Điều này cũng bao gồm những gì bạn có thể cần về cơ sở vật chất và công nghệ.
  • Nhờ một cố vấn hỗ trợ nghề nghiệp xem xét thư xin việc và sơ yếu lý lịch của bạn để làm cho nó trở nên mạnh mẽ nhất có thể. Các tổ chức tuyển dụng so sánh các kỹ năng họ đang tìm kiếm phù hợp với các kỹ năng và kinh nghiệm được nêu trong sơ yếu lý lịch. Những khoảng trống trong hồ sơ xin việc thường là dấu hiệu đỏ cho các tổ chức, vì vậy, một cố vấn nghề nghiệp có tay nghề cao có thể giúp hướng dẫn bạn cách vượt qua những trở ngại đó và đưa ra các mẹo về quy trình phỏng vấn và hậu phỏng vấn.
  • Nghiên cứu các cơ quan địa phương làm việc với người khuyết tật vì họ có thể có các nguồn lực và mạng lưới mà bạn có thể kết nối. Ngoài ra, các cơ quan khác sẽ có những hỗ trợ cho người khuyết tật cũng phục vụ một nhóm dân số cụ thể như cơ quan việc làm bản địa, trung tâm dành cho người mới hoặc dịch vụ thanh niên. Thông thường, các tổ chức này sẽ có các cố vấn nghề nghiệp để bạn có thể xem xét sơ yếu lý lịch và hướng dẫn cách đóng khung việc thiếu kinh nghiệm làm việc.
  • Nếu bạn có thể, hãy tình nguyện và mạng lưới. Tài liệu tham khảo rất quan trọng và mạng lưới sẽ giúp tên của bạn nổi tiếng. Đây luôn được chứng minh là cách hiệu quả nhất để xây dựng mạng lưới và tìm việc.
  • Chính quyền tỉnh của bạn có các dịch vụ dành cho người khuyết tật và trang web của họ là một nơi tuyệt vời để cung cấp thông tin.
  • Chính phủ liên bang cũng có một ngân hàng việc làm trực tuyến, cũng như thông tin hữu ích cho những người khuyết tật đang tìm kiếm việc làm.
  • Hai ngân hàng việc làm trực tuyến dành riêng cho người khuyết tật là WORKInk , một không gian dành riêng cho các bài đăng việc làm của các nhà tuyển dụng cổ phần cung cấp việc làm toàn diện và Lime Connect , một tài nguyên trực tuyến có các bài đăng tuyển dụng, các dịch vụ phát triển chuyên môn, huấn luyện và các sự kiện kết nối.

Xem thêm: Nâng cao kỹ năng sống cho người khuyết tật

Hy vọng rằng những lời khuyên này sẽ giúp bạn có được chỗ đứng vững chắc trên thị trường việc làm. Trong khi đó, tất cả chúng ta sẽ tiếp tục hướng tới việc vượt qua rào cản lớn nhất đối với việc làm cho người khuyết tật: giáo dục và thay đổi nhận thức của người sử dụng lao động. Thông qua thảo luận và học hỏi, người sử dụng lao động có thể hiểu rằng người khuyết tật là một lực lượng lao động chưa được khai thác, sẵn sàng chuyển đổi cách thức kinh doanh có thể được thực hiện.

Đào tạo kỹ năng làm việc với người khuyết tật cho công chức nhà nước

Vừa qua đã có một buổi gặp gỡ giữa Quỹ Nghiên cứu và phát triển Quốc tế (FACID) với đại diện các dạng tật hiện đang sinh sống và làm việc tại TP.HCM như khuyết tật vận động, khiếm thính, khiếm thị, và phụ huynh của trẻ chậm phát triển tại văn phòng Chương trình Khuyết tật & Phát triển. Mục đích của buổi gặp gỡ nhằm giúp FACID hiểu rõ những khó khăn mà người khuyết tật (NKT) đã và đang gặp phải để từ những hiểu biết thực tế này, đưa ra chương trình đào tạo cho công chức nhà nước Kỹ năng làm việc với NKT hiệu quả nhất và thiết thực nhất.

Giới thiệu: Kỹ năng trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật

Các đại diện khuyết tật người thì bị bẩm sinh, người thì bị khuyết tật khi đã 20 tuổi (do mổ cột sống phải ngồi xe lăn, bị sốt cao lúc 6 tuổi không nghe được v.v…). Dạng tật là như nhau, khác chăng, nỗi đau thiệt thòi nhẹ nhàng do đã quen từ nhỏ hay vật vả vì cuộc sống bổng dưng bế tắt khi tuổi đời đang tươi đẹp.

Việc học của người khuyết tật

Với những giờ học chính quy, bắt buộc phải cố theo, thì các bạn khuyết tật vận động phải nhờ bạn bè giúp đỡ bồng bế lên phòng học trên lầu. Phòng gần cầu thang thì khỏi vác xe lăn lên, phòng học xa thì khiên cả chủ lẫn xe. Có bạn chào thua phải bỏ học giữa chừng không phải vì thiếu năng lực mà chỉ vì không lên lầu được. Còn những khoá học thêm thì hiếm.
Với người khiếm thị và khiếm thính thích học trường chuyên biệt, nhưng chỉ ở tới cấp nào đó rồi cũng phải học hội nhập chung với người không khuyết tật (NKKT). Vì là dạng cá biệt, nên dù thầy cô có quan tâm cũng không thể giúp đỡ nhiều được vì lớp học qua đông. Chủ yếu là phải tự học và tự lực. Các bạn khiếm thị nhận được quyết định miễn thi tốt nghiệp cấp 2, 3 và miễn cả đại học nhưng … chẳng ai vui cả vì từ phía bản thân người khuyết tật chẳng còn động lực gì để học cả “không học cũng đậu” và từ phía xã hội “được miễn mà có giỏi gì đâu. Một thiện chí tốt nhưng lại phản tác dụng. Các bạn khiếm thính thì mong ước biết bao, được tăng giờ làm bài thi, vì hạn chế về giao tiếp, các bạn phải mất nhiều thời gian đọc hiểu đề thi. Và còn chương trình học nữa, các bạn mất 10 năm chỉ để học chương trình cấp một theo giáo trình dành cho học sinh không khuyết tật.
Bạn thiểu năng trí tuệ thì cũng học trường chuyên biệt và đòi hỏi mẹ phải cùng học với con, cùng sát cánh với nhà trường thì mới có chút tiến bộ trong giao tiếp đơn giản.

Tiếp cận Internet
 
Tất cả NKT đều có thể tiếp cận Internet, nhưng tuỳ theo mức độ hiểu biết của từng cá nhân mà sự tiếp cận này là hỗ trợ cho công việc hay chỉ để chat cho vui. Đương nhiên vẫn có NKT không biết và không có điều kiện tiếp cận Internet như NKKT.

Rào cản từ môi trường tiếp cận 
 
Công trình cản trở: người khuyết tật vận động là gặp nhiều khó khăn nhất vì hầu như phải đối mặt với những công trình không có sự tiếp cận (lối đi, cầu thang, nhà vệ sinh …)
Thái độ: Hầu hết NKT đều gặp phải rào cản về thái độ, ánh nhìn thương hại, lạ lẩm và cả khó chịu …
Xe bus – gian truân quá!
 
Đại diện khiếm thính đi lại chủ yếu bằng xe bus và hầu như trong một tuần luôn có ít nhất một ngày bị nhân viên soát vé xe bus mắng. Đại diện khiếm thị thì: xe bus gặp cầm gậy thì vọt nhanh. Còn các bạn khuyết tật vận động thì hầu như không thể đi lại bằng xe bus được.
Việc làm của NKT?
 
Khó khăn, chủ yếu từ những nguyên nhân sau:

  • Xin việc: gặp phải thái độ đối xử phân biệt của doanh nghiệp do chưa hiểu được NKT: bị từ chối ngay từ đầu vì “NKT làm sao làm việc được”;
  • Trong môi trường làm việc: mối quan hệ đồng nghiệp, giao tiếp (khiếm thính, khiếm thị), không thể làm được nhiều việc và năng nổ như NKKT (khuyết tật vận động);
  • Công việc phù hợp: người khiếm thính không thể làm việc trong môi trường ồn ào, nghe điện thoại, người khiếm thị, khuyết tật vận động không thể làm việc trong môi trường phải đi lại nhiều, …

Một số NKT vận động kinh doanh các ngành nghề như sửa đồng hồ, sửa chìa khóa, bơm gas … thường bị cấm, bị phạt, tịch thu xe vì vi phạm quy định về trật tự giao thông ở lòng lề đường mà không được một chế độ hỗ trợ nào.

Tìm hiểu thêm: Kỹ năng giao tiếp với người khuyết tật

Các dịch vụ xã hội
 
Chưa có dịch vụ xã hội cấp phát máy trợ thính miễn phí, chí có những nhà hảo tâm tài trợ theo cá nhân. Xe lăn thì được một số hội bảo trợ cấp phát miễm phí nhưng vẫn có một số trường hợp có danh sách khống NKT cần cấp phát xe nhưng thực chất là không có.

Khu vui chơi giải trí – miễn phí dành cho NKT?
 
Đã có một số nơi có khu vui chơi dành cho NKT, thu phí hoặc miễn phí và hầu như chỉ dành cho NKT vận động và khiếm thị (các bạn khiếm thị xem qua sự mô tả của bạn bè).

Tình yêu và hôn nhân của NKT
 
Để có được tình yêu và đến được với nhau là điều khó khăn nhưng giữ được tình yêu và cùng nhau vượt qua hết những khó khăn để nuôi dạy con thành người có ít cho xã hội là cực kỳ vất vả.
Phải khó khăn để xác định đó là tình yêu từ NKKT hay là sự thương hại (cách nói chuyện, tính cách …); gặp sự phản đối từ gia đình hai bên phải biết đấu tranh (con gái/con trai lấy chồng/cưới vợ chứ có phải bố mẹ đâu?); cũng có đôi lúc người bạn đời mặc cảm vì lấy chồng/vợ khuyết tật, rồi giận dỗi vì áp lực cuộc sống phải gồng gánh một mình v.v… Nhưng với tình thương và trên hết là trách nhiệm với nhau với con giúp NKt vượt qua khó khăn và sống hạnh phúc.

Phân biệt đối xử

Tất cả đều đồng ý rằng không thể nào không có phân biệt đối xử được. Trong gia đình còn có phân biệt đối xử huống chi là ngoài xã hội. Vấn đề là NKT cảm nhận và có thái độ với sự đối xử phân biệt như thế nào.

Thành lập hội NKT dễ hay khó?
 
Rất khó, phải trực thuộc một tổ chức nào đó của chính quyền và cũng cón tùy địa phương có quy định về việc cấp phép thành lập hay không? Điều kiện yêu cầu khó hay dễ.

Nhìn lại quá khứ và hy vọng ở tương lai 

Ba năm qua, cộng đồng NKT đã có nhiều chuyển biến khá lạc quan. NKT đã tham gia và tự tổ chức nhiều phong trào, tự tin hơn nhiều và đã nhận thức rõ về giá trị của bản thân họ.
Ba năm tới, NKT mong chờ điều gì? Tụ tin hơn và tham gia nhiều hơn. Nhưng giai đoạn này mong chờ nhiều từ phía chính quyền:

  • Hiểu rõ về khuyết tật: NKT không phải là người vứt đi;
  • Phường, xã, quận, huyện nên có bộ phận hỗ trợ NKT (nắm rõ số lượng NKT, độ tuổi đi làm, công ăn việc làm …), không nên có sự hỗ trợ kiểu ban phát;
  • Có sự động viên khuyến khích đúng mức;
  • Chế độ trợ cấp cho NKT phải có liên tục và cần rõ ràng công khai;
  • Nên ưu tiên giải quyết trước cho NKT trong việc chứng nhận giấy tờ;
  • Hãy quan tâm đến trẻ chậm phát triển.

Xem thêm: Cách giao tiếp với người khuyết tật

Thật vui khi được chia sẻ cùng với nhau. Tôi nhìn bạn, bạn nhìn tôi, chúng ta cùng chung nỗi bất hạnh trong một kiếp làm người. Nhưng trong tương lai, hy vọng rằng mọi việc sẽ tốt đẹp hơn vì chúng ta đến với nhau chặt chẻ hơn, cảm thông hơn và đơn giản chúng ta đã tự tin rằng chúng ta là ai và chúng ta muốn gì?

Phục hồi chức năng cho người tàn tật

Người tàn tật là người bị tổn khuyết hay dị dạng một hay nhiều bộ phận chức năng của cơ thể, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho việc sinh hoạt, học tập, lao động, gặp nhiều khó khăn vì vậy họ chịu nhiều thiệt thòi so với những người cùng hoàn cảnh, cùng lứa tuổi, tìm hiểu khái niệm trên ta đã thấy việc trả lại bằng các biện pháp phục hồi, bù trừ khả năng chức phận cho người tàn tật để giảm bớt khó khăn, thiệt thòi cho họ mang ý nghĩa xã hội, nhân văn sâu sắc như thế nào.

Giới thiệu: Kỹ năng giao tiếp với người khuyết tật

Tuỳ theo trình độ phát triển, mỗi nước có các quy định về tiêu chuẩn thương tật khác nhau ( có những nước chỉ cần bị cụt 1 ngón, tật khúc xạ, trí nhớ kém, nói nhiều… cũng được coi là người khuyết tật ) do đó việc xác định tỉ lệ, số lượng người tàn tật ở các quốc gia cũng có nhiều vấn đề chưa thống nhất, tuy nhiên theo các nguồn thống kê, ít nhất cũng  có tới 1-1,2% người tàn tật trên tổng số dân toàn thế giới. Do nhiều nguyên nhân: chiến tranh, nghèo nàn, lạc hậu…Việt Nam là một trong những quốc gia có nhiều người tàn tật  ( riêng hỏng mắt VN có tới 65.000 người, thế giời có từ 38 đến 45 triệu người mù )

 

Có rất nhiều dạng tật khác nhau, nhưng thông thường người ta chia người tàn tât ra 4 nhóm chính:

 

1- Tàn tật vận động gồm những người bị dị dạng, cụt liệt các chi, vẹo lệch cột sống… họ gặp nhiều khó khăn , bị suy giảm khả năng vận động.

 

2 – Tàn tật về ngôn ngữ gồm những người bị câm điếc, khuýêt tật cơ quan phát âm… họ gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội.

 

3 – Thiểu năng trí tuệ, ( Chưa kể những người mắc bệnh tâm thần kinh), những người bị Daw, suy giảm trí tuê, gặp nhiều khó khăn trong tư duy, nhận thức

 

4 – Tàn tật cơ quan thị giác: Người khiếm thị.

 

Trong phạm vi bài này ta tìm hiểu sâu hơn về người bị tàn tật cơ quan thị giác ( người khiếm thị )

Thế nào là người khiếm thị ?

 

Khái niệm: Người khiếm thị là người bị suy giảm một phần hay tổn thương hoàn toàn cơ quan thị giác, bị mù hoàn toàn hoặc không nhìn thấy trong phạm vi  3 mét, không đếm được ngón tay trong phạm vi 1 mét họ bị hạn chế khả năng định hướng, khả năng vận động, gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp xã hội

 

Người mù nhận biết thế giới khác người sáng mắt ở điểm nào ?

-Người sáng mắt nhận biết thế giới thông qua 5 giác quan, chủ yếu nhờ cơ quan thị giác

– người hỏng mắt nhận biết thế giới thông qua 4 giác quan

( thính giác, xúc giác, khứu giác, vị giác…)

Những quan niệm của xã hội về người tàn tật:

 

* Những quan niệm trước đây

 

*     Phái duy tâm

Ở nhiều quốc gia, nhiều bộ tộc lạc hậu trước đây, người ta cho rằng người tàn tật, mù loà là do bị Thần thánh trừng phạt, số kiếp trời định, hoặc do hậu quả cách ăn ở của cha mẹ, ông bà từ những kiếp trước… Do quan niệm sai về nguyên nhân dẫn đến tật mù, nhiều bộ tộc đối xử với người mù rất tàn nhẫn, thậm chí cả người trong gia đình cũng bạc đãi, coi người mù là nỗi tủi hổ cho gia đình nên họ bị đem thả xuống sông, xuống biển, bỏ vào rừng cho sói, cọp ăn, hoặc bị coi như người chết chưa chôn.

 

Ngược lại, có phái duy tâm lại cho rằng: Trời phú cho người mù những tài năng đặc biệt, họ có giác quan thứ sáu, có khả năng tâm linh. Họ làm được nhiều việc mà người bình thường không làm được như tiên tri, bói toán, chơi nhạc…

 

Những người theo chủ nghĩa duy vật cũng có những quan điểm khác nhau:

 

Phái duy vật máy móc cho rằng, người mù không thể làm gì hơn các thao tác, các hoạt động giản đơn trần tục hoặc người mù chỉ nghe là chính (thính giác chiếm ưu thế tuyệt đôí), không cần trực quan, không cần thực hành, không cần lao động chân tay chỉ nên sử dụng khả năng nói, khả năng sử dụng ngôn từ trong tuyên truyền, thuyết giảng…

 

Rõ ràng do trình độ phát triển còn thấp kém, mọi người không hiểu rõ bản chất của tật mù, không nắm được khả năng bù trừ các chức năng của cơ thể, khả năng học tập, làm việc của người khiếm thị… nên trước đây, ở nhiều quốc gia trên thế giới, người ta đã tỏ ra bất lực trước những loại tàn tât nặng trong đó có tật mù, không biết giúp đỡ họ bằng cách nào nên cứ hễ bị mù là đành chịu dốt nát, đói nghèo chỉ còn cách đi ăn mày, ăn xin kiếm sống. Từ đó người mù bị coi như một tai hoạ khủng khiếp. Mù loà đồng nghĩa với những gì thấp hèn, tủi nhục.

 

*     Từ thời kỳ Phục hưng.

 

Những nhà xã hội học, các triết gia thời Phục hưng đã có cái nhìn đúng đắn hơn, dẫn đến thái độ đối với người tàn tật được cải thiện nhiều. Luật pháp Napoleon đã có những quy định thể hiện sự đối xử công bằng đối với người tàn tật, người mù như chấp nhận cho họ có quyền thừa kế và hôn nhân.

 

*     Quan niệm Mácxít.

 

Những người theo chủ nghĩa Mác cho rằng : Người mù là những người có khiếm khuyết (mất hẳn hoặc hầu hết) khả năng sử dụng thị giác. Họ có khó khăn nhất định trong sinh hoạt, học tập, giao tiếp. Những khó khăn đó tuỳ thuộc vào mức độ, nguyên nhân, đặc điểm thời gian, tuỳ thuộc vào các điều kiện khác của môi trường, xã hội, và mức độ tác động, vai trò các giác quan khác trong cơ thể.

 

Những luận cứ khoa học (giải phẫu sinh lý, tâm lý) đã khẳng định: sự phát triển tâm sinh lý của người khiếm thị cũng tuân theo những quy luật chung nhất của con người, qua các giai đoạn, các lứa tuổi. Kinh nghiệm thực tế cũng chứng minh những tài năng con người kể cả người mù có được đều phải trải qua rèn luyện trong, học tập, lao động, hoạt động giao tiếp chứ không thể tự xuất tiết ra được.

 

Dần dần cùng với những tiến bộ của các ngành khoa học kỹ thuật, ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới, nhận thức cả xã hội về người tàn tật ngày càng đúng đắn hơn, đời sống của người tàn tật cũng được quan tâm bằng nhiều chính sách tiến bộ. Ngày nay, cả thế giới đang khắc phục tình trạng người tàn tật, cải thiện tật mù bằng các hình thức Phục hồi, bù trừ  chức năng, đưa người tàn tật hoà nhập vào với cuộc sống chung của xã hội, nhiều người tàn tật, người mù đã được tạo điều kiện để học tập, có việc làm, tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội, vui chơi, giải trí. Có thể nói, bước đầu người tàn tật, người mù đã hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng xã hội.

 

Thế nào là Phục hồi chức năng ?

 

Khái niệm:

 

Phục hồi chức năng cho người tàn tật là sử dụng những biện pháp tổng hợp về mặt y tế, khoa học, giáo dục và tập luyện,nhằm hạn chế hay loại trừ những khó khăn do tật nguyền, tạo cơ hội cho người tàn tật hoà nhập cộng đồng, thực hiện sự bình đẳng, và có cuộc sống hạnh phúc.

 

Nội dung và những hình thức phục hồi chức năng:

 

Phục hồi bằng phương pháp y học: Trước hết là cần phát hiện sớm nguyên nhân, mức độ tàn tật để có sự can thiệp kịp thời bằng các biện pháp y tế: Chẩn ®an, ®iỊu trÞ bằng thuốc thang, bấm huyệt, mổ xẻ, thay thế hoặc bổ sung các bộ phận khiếm khuyết…

 

Phục hồi sau y tế: (Phục hồi theo phương pháp xã hội học)

 

Năm nội dung cơ bản để phục hồi, bù trừ chức năng sau y tế :

 

1/ Phục hồi tinh thần, tâm lý, ý chí :

 

Trước hết là việc ổn định tâm lý, rèn luyện ý chí

 

Với trẻ bị tật bẩm sinh, khi còn bé, cần chăm sóc chu đáo như những trẻ em khác. Từ 3-4 tuổi, trẻ bắt đầu có óc quan sát, biết so sánh giữa bản thân với các thành viên khác trong nhà, cha mẹ cần thường xuyên quan tâm đến những diễn biến tâm lý của các cháu. Bằng tình cảm thật sự thương yêu, phụ huynh phải dẫn dắt dần dần để trẻ hiểu được sự khác nhau giữa cháu và những trẻ cùng lứa, kịp thời an ủi, động viên để cháu không bị hụt hẫng, giải thích để cháu hiểu dù bị tổn khuyết một vài bộ phận của cơ thể nhưng nếu chịu khó học tập, rèn luyện thì chắc chắn có thể khắc phục được khuyết tật để sinh hoạt, học tập, lao động như những người bình thường khác.

Tìm hiểu thêm: Hướng dẫn kỹ năng sống cho người khuyết tật

Khi nhận thức được tật mù của bản thân, thì dù ở lứa tuổi nào, nguyên nhân gì, người hỏng mắt  cũng dễ bị sốc, mất thăng bằng về tâm lý, tự thấy mặc cảm, tủi hờn, tự cho rằng mình bị tật nguyền nặng, không còn làm được việc gì, muốn sống xa lánh xã hội… Đây là lúc rất cần được gia đình, người thân gần gũi, an ủi, động viên bằng những gương sáng của người tàn tật gần xa, tạo điều kiện giao tiếp ngày càng rộng để người tàn tật vượt qua giai đoạn khủng hoảng tất yếu, tránh suy sụp tinh thần, ổn định về tâm lý, bồi dưỡng tăng cường ý chí để phấn đấu vươn lên, càng lớn lên, gia đình càng phải tích cực hướng dẫn cháu luyện đi lại, tự phục vụ bản thân, tăng cường tập luyện thể lực cho thân thể khỏe mạnh, rèn luyện các giác quan còn lại thêm tinh nhạy, trí tuệ minh mẫn, không mắc thêm bệnh thứ phát, khuyến khích trẻ tham gia vui chơi giải trí, giao tiếp với bạn bè cùng lứa để trẻ ngày càng dạn dĩ, tự tin trước khi ra lớp học.

 

Đến tuổi đi học, gia đình cần liên hệ sớm với nhà trẻ, lớp mẫu giáo, thuyết phục để các cơ sở giáo dục chuyên biệt giúp đỡ học cụ, công cụ hỗ trợ, tài liệu hướng dẫn, sách giáo khoa,… để gia đình có điều kiện trang bị cho cháu những kiến thức cần thiết giúp cháu tự tin vào khả năng bản thân trước khi hòa nhập cùng các bạn ở nhà trường.

 

Trong giai đoạn này, đòi hỏi người tàn tật phải tự rèn luyện bằng việc tăng cường học tập về mọi mặt kiến thức nhất là học văn hoá, tăng cường tư duy, nhận định đánh giá các vấn đề, các hiện tượng, rèn luyện trí nhớ, khắc phục những nhược điểm người mù thường mắc trong tư duy như tự ti, mặc cảm, đa nghi, suy diễn phiến diện…

 

Trong quá trình phục hồi tâm lí , ý chí, việc tổ chức để người mù được tham gia các khoá học văn hoá, từ xoá mù chữ mức I, mức II đến các lớp bổ túc nâng cao kĩ năng sử dụng chữ Braille có ý nghĩa xã hội rất rõ rệt, người mù được học chữ, biết sử dụng chữ  nổi vào sinh hoạt, học tập, xử lý công việc hàng ngày không chỉ là niềm khích lê để bản thân người mù tự tin hội nhập với cộng đồng xã hội mà chữ Braille còn là phương tiện cơ sở để người mù tiếp thu kiến thức trên nhiều lĩnh vực khác: nâng cao học vấn, học nghề, tổ chức quản lý gia đình, quản lý tập thể,  người mù học chữ nổi đạt kết quả chính là bước đầu khẳng định vị thế bản thân trước gia đình, trước xã hội và các cơ quan chức năng địa phương

 

2/ Phục hồi về sức khoẻ, thể trạng:

 

Do tật mù gây khó khăn trong định hướng, người mù thường ngại  đi lại, ít hoạt động nên rất dễ sinh ra những  tật thứ phát: cơ bắp nhão, chân tay cử động vụng về, thiếu chuẩn xác, lệch cột sống, dung lượng phổi ít, thần kinh suy nhược, sức khoẻ kém, ít khả năng chịu đựng… vì vậy ngay từ lúc còn nhỏ gia đình cần tích cực hướng dẫn cháu luyện đi lại, tự phục vụ sinh hoạt bản thân, tăng cường tập luyện thể lực cho thân thể khỏe mạnh. Người bình thường đã cân vận động, tập luyện; người khuyết tật càng càng phải tự giác tập luyện, lao động để khắc phục các tật thứ phát. Khuyến khích trẻ tham gia vui chơi giải trí, giao tiếp với bạn bè cùng lứa để trẻ ngày càng dạn dĩ, tự tin.

 

Việc hướng dẫn để người mù tập luyện, tạo nhiều điều kiện về phương tiện vật chất để người mù  tham gia vận động, lao động để nâng cao sức khoẻ, rèn luyện sức chịu đựng bền bỉ là rất cần thiết. càng lớn lên, gia đình càng phải tích cực hướng dẫn cháu luyện định hướng, đi lại, tự phục vụ bản thân, dọn dẹp phòng ốc, chăm sóc nhà cửa, vườn tược, tăng cường tập luyện cho thân thể khỏe mạnh, rèn luyện các giác quan còn lại thêm tinh nhạy, trí tuệ minh mẫn, khuyến khích trẻ tham gia vui chơi giải trí cùng bạn bè đồng lứa, tham gia các hoạt động xã hội, ngày càng mở rộng giao tiếp với mọi người

 

Phục hồi khả năng định hướng:

 

Khái niệm : Định hướng là môn khoa học về phương pháp nhận thức sự vật, sự việc và môi trường (trong đó bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ) giúp ta làm chủ được sự việc, làm chủ  môi trường để có quyết sách, quyết định phương hướng đúng cho hành động hiệu quả

 

Người hỏng mắt chúng ta cần được định hướng trên cả 3 lĩnh vực:

 

– Định hướng trong môi trường, không gian sống để đi lại, di chuyển

 

( có bài học chuyên đề riêng )

 

– Định hướng chung trong cuộc sống hoạt động và công tác. ( bài tư duy tích cực nâng cao chất lượng cuộc sống )

 

– Định hướng trong lao động, việc làm (  vai trò hướng nghiệp, tạo việc làm  cho ngươì mù ).

 

3/ Phục hồi khả năng giao tiếp:

 

a – Giao tiếp là gì ?

 

Giao tiếp là cung cách cư xử, cử chỉ , tác phong, nói năng, ăn mặc… như thế nào để người chung quanh chấp nhận, để thích ứng với hòan cảnh và để thể hiện phẩm cách, trình độ văn hóa của mỗi con người

 

b -Vì sao phải giao tiếp?

 

Chủ nghĩa Mark coi con người là mối tổng hòa các quan hệ xã hội, Con người chỉ có thể thành người qua các mối quan hệ giao tiếp trong xã hội. không có con người đứng ngoài xã hội và cũng không có xã hội nếu không có các cá nhân.

 

c – Những khó khăn của Người mù trong giao tiếp ứng xử:

 

Do gặp nhiều khó khăn trong định hướng, đi lại, do tính tự ti, mặc cảm, ít hoạt động, khả năng nhận thức môi trường tự nhiên, môi trường xã hội của người mù hạn hẹp, thiên lệch, chưa hiểu đủ về mình, về người khác, không quan sát được nét mặt, cử chỉ, thái độ của đối tượng để điều chỉnh, ứng xử… nên nhìn chung, giao tiếp xã hội của người mù còn nhiều hạn chế. Muốn giao tiếp tốt phải có tri thức trên nhiều lĩnh vực, nhất là những hiểu biết về tâm sinh lí,  phải có vốn từ ngữ phong phú, có cử chỉ tác phong, y phục phù hợp với hoàn cảnh …

 

Là người khuyết tật, khi giao tiếp ít nhiều cũng gây sự chú ý của những người chung quanh, cho nên trừ khi ở trong nhà mình, ngoài ra người khuyết tật cần có đầu tóc, quần áo gọn gàng sạch đẹp. Lời nói, cử chỉ phải tỏ rõ được phẩm cách của con người có giáo dục : Từ tốn lễ phép, nói ít, nói nhỏ vừa đủ nghe, không gọi nhau í ới, đi lại nhẹ nhàng đúng luật giao thông, được người giúp đỡ nhớ nói cảm ơn, lỡ va vào người khác nhớ xin lỗi. Chuẩn bị sẵn khăn giấy, không khạc nhổ, vứt rác ra đường, không đứng nói chuyện giữa lối đi lại. Cầm gậy dò đường không khua khoắng lung tung. Có trẻ em đi theo giúp đỡ cần dặn dò kỹ để các cháu dắt dẫn đúng cách, vào nhà người khác vào cơ quan khi chờ người lớn làm việc, trò chuỵên, chỉ chơi ngoài sân ngoài hè không chạy chơi xa, nhất là không lục lọi đồ dùng, tủ sách, nghịch phá người khác.

 

Nếu dắt theo chó, nhớ rọ mõm, buộc dây vào cổ để chó không đi qúa tầm kiểm sóat của chủ, không để chó liếm vào chân tay người khác, đi bậy ra đường.

 

Về tâm, sinh lý của người khiếm thị biểu hiện trong sinh hoạt, giao tiếp hàng ngày:

 

Do thời gian có hạn dịp, này ta chỉ tìm hiểu một số đặc điểm, thói quen thường gặp của người khiếm thị để tránh những va vấp đáng tiếc trong hoạt động, giao tiếp

 

Những ưu thế trong tâm sinh ly người khiếm thị:

 

Nhìn chung nhiều người mù rất khổ tâm vì không đóng góp được gì, chỉ ăn nhờ, ở đậu, là gánh nặng cho gia đình, xã hội. nên họ rất kiên trì chịu đựng, khắc phục khó khăn trong đời sống và sinh hoạt.

 

Trừ số ít có điều kiện khá giả, cam chịu sự cưu mang của gia đình, còn phần lớn người mù đều khát khao có công việc phù hợp với khuyết tật mắt để tự lao động kiếm sống, thóat ra khỏi sự lệ thuộc.

 

Người mù rất ham hiểu biết, muốn vươn lên học tập, muốn sớm hòa nhập vào cuộc sống chung, vì vậy gia đình, cán bộ hội và xã hội, phải có trách nhiệm giúp đỡ cho họ có điều kiện vươn lên làm chủ bản thân, ổn định cuộc sống.

 

– Người mù dễ tập trung tư tưởng

 

Do ít bị tác động, ít bị phân tán bởi những yếu tố khách quan, nhiều thì giờ suy nghĩ nên khi lao động, học tập, người mù thường tập trung tư tưởng hơn, tư duy sâu vào công việc..

 

– Do tập trung cao, tư duy sâu nên nhiều người mù có trí nhớ tốt,  khả năng tiếp thu được nhiều dạng kiến thức. Nếu biết vận dụng kiến thức, phát huy những ưu điểm trên vào sinh hoạt, học tập, lao động…thì nhiều người mù có thể đóng góp xứng đáng cho xã hội.

 

– Người mù rất khát khao tình cảm

 

+ Phần không tích cực:.

 

Đặc điểm thường gặp nhất ở người mù là tự ti, mặc cảm ( tự cho mình là nhỏ bé, bất lực.)  Nhiều người mù nhất là ở nông thôn, vùng xa, miền núi rất ngại tiếp xúc với người lạ, người sáng, ngại ra chỗ động người

 

Dễ xúc động, mủi lòng.

 

Dễ bị kích động,

 

Hay định kiến,

 

Đa nghi

 

Dễ miên man, suy diễn, phiến diện ( hiểu, suy nghĩ 1 chiều, một mặt không phân tích tổng hợp khái quát nên gọi là phiến diện)

 

–  Không muốn cho mọi người biết mình là mù (không muốn đeo kính, dùng gậy để đi lại)

 

Dễ có biểu hiện tự cao,tự đại :  (do ít tiếp xúc với các tầng lớp khác, ít biết ngưỡng tri thức của người khác so với mình nên buổi đầu sau khi được sống tập thể, được học chữ, biết đọc biết viết, nhiều người mù rất huyênh hoang tỏ ra ta không kém ai. Tưởng rằng học được chữ Braille sử dụng được vài phần mềm trên máy vi tính là cái gì cũng làm được.)

 

–   Một số người mù do phải lăn lộn kiếm sống ở những môi trường thiếu lành mạnh, thường có một số biểu hiện tự do vô kỷ luật, không phân biệt trên dưới

 

–   Những người có chút công lao dễ công thần, kiêu ngạo.

 

–   Thích làm nổi (chơi trội ), do không kiểm soát được những hành vi không đẹp mắt, phát biểu thường trùng lắp, nói những điều mà người khác nói rồi.

 

Tìm hiểu những nội dung trên, để mỗi người mù phải luôn tự xác định trách nhiệm của  mình với bản thân , với gia đình và tập thể, xã hội, phát huy những ưu thế tâm sinh lý, khắc phục những nhược điểm, thói quen không phù hợp, tích cực học tập, lao động, hoạt động, rèn luyện để ngày càng nâng cao tri thức, năng lực ngày càng mở rộng khả năng giao tiếp để đóng góp nhiều hơn cho xã hội. Anh chị em cán bộ công tác trong hội phải hiểu là tuy người mù tiếp thu, sử dụng ngôn ngữ có tốt nhưng nếu dùng nhiều khái niệm trừu tượng thiếu “trực quan”, Thiếu miêu tả giải thích rõ ràng thì rất dễ có hiện tượng ngôn ngữ hình thức, nói mà không hiểu bản chất từ ngữ.  Có hiểu  điều đó, khi cung cấp thông tin cho người mù, ta cần tạo nên những hình ảnh chính xác, hình tượng cụ thể, tránh những mô tả sự vật mơ hồ, ngôn ngữ sáo rỗng ( đẹp tuyệt, xấu vô cùng, cao lắm… )

 

4/ phục hồi chức năng trong sinh hoạt cá nhân, trong việc tổ chức sắp xếp cuộc sống hàng ngày (trước đây goi là khả năng tự phục vụ).

 

Với nhiều người, bằng bản năng, bằng tìm hiểu, quan sát hàng ngày, có thể tự hình thành thói quen trong mọi sinh hoạt cá nhân. Những người mù bẩm sinh, người mù sống trong các gia đình ít được quan tâm, chăm sóc, rất cần được bạn đồng tật, thầy cô giáo giúp đờ, hướng dẫn để họ có những  hiểu biết tối thiểu làm cơ sở cho việc tập luyện hình thành thói quen đúng, thành kĩ năng tự chăm lo cho mọi sinh hoạt hàng ngày của cá nhân. từ việc vệ sinh thân thể, giặt giũ, quét dọn, nấu nướng tự phục vụ; những lao động giản đơn trong nhà ngoài vườn, đến những hoạt động, lao động ngày càng phức tạp có phạm vi không gian rộng lớn ngoài xã hội

 

5/ Phục hồi chức năng bằng hướng nghiệp và lao động,

 

Trong xã hội, mọi người , kể cả những người giầu có, đầy đủ  vẫn có nhu cầu lao động

 

Với người hỏng mắt, có việc làm phù hợp, ngoài ý nghĩa kinh tế là sản xuất ra của cải để đáp ứng nhu cầu vật chất, còn mang nhiều ý nghĩa xã hội, nhân văn sâu sắc:

 

– Việc làm tạo điều kiện để họ thóat ra khỏi sự lệ thuộc vào gia đình và xã hội, vươn lên thực sự bình đẳng, hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng,

 

– Tham gia hoạt động, lao động là phương tiện để họ phục hồi chức năng toàn diện là kết quả cuối cùng của phục hồi chức năng (Nâng cao thể chất, rèn luyện các giác quan, tinh thần, trí tuệ, ý chí v.v…)

 

Rõ ràng nếu nhìn theo những góc độ này, việc làm cho người khiếm thị còn mang ý nghĩa của sự giải phóng, ý nghĩa khoa học rõ rệt.

 

Trong quá trình lao động, do phải sử dụng phối hợp nhiều giác quan, được rèn luyện bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần nên các giác quan của người mù hoạt động hữu hiệu hơn, nhạy cảm hơn, phân biệt cảm xúc rõ rệt hơn. Cũng cần chú ý nhắc nhở anh chị em người mù, giữ gìn cac giác quan cho tốt để vận dụng nó trong suốt cuộc đời. Vì dù các giác quan phát triển tinh nhạy đến đâu thì khả năng hoạt động chung của người mù cũng còn rất nhiều hạn chế so với người bình thường. Việc tạo điều kiện để đền bù các chức phận khác của cơ thể cho người hỏng mắt là việc tự nhiên của mỗi cá nhân nhưng để phối hợp các hình thức phục hồi chức năng cho người hỏng mắt, muốn hay không cần phải có tổ chức, có phương tiện, có sự thống nhất quản lý mang tính chất Nhà nước, từ vi mô đến vĩ mô, có sự hợp đồng tac động của nhiều cơ quan. Đặc biệt là ngành TBXH, giáo dục, Y tế… nhằm tạo cho người mù có những điều kiện tối thiểu, phát huy khả năng tiềm ẩn, xác lập vị thế, thực hiện lời dạy “Tàn nhưng không phế” của Hồ Chủ Tịch

 

Nhận thức được tầm quan trọng này, từ trong gia đình, tập thể việc hướng nghiệp, dạy nghề, tìm việc làm phù hợp khuyết tật mắt để cải thiện đời sống cho người mù là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu trong công tác chăm lo đời sống. từ lúc còn nhỏ sống với gia đình cho đến lúc tưởng thành sống trong tập thể, người mù cần được tạo nhiều cơ hội tiếp xúc với sự vật, hiện tượng, môi trường bằng các giác quan còn lành khác, đây chính là yếu tố quan trọng để người mù hình thành khái niệm, hiểu biết đầy đủ về bản chất, sự vật hiện tượng, dựa trên những tri giác cụ thể để họ phân tích, khái quát hiện tượng, sự vật. “trăm nghe không bằng một thấy”, “trăm hay không bằng tay quen”. rõ ràng không phải nhờ có lực lượng thần bí trời phật nào bù đắp cho người mù để tạo nên sự công bằng theo quan niệm của nhiều người ” có tật, có tài “mà chính nhờ phải sử dụng nhiều, được rèn luyện bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần nên các giác quan của người mù hoạt động hữu hiệu hơn, nhạy cảm hơn, phân biệt cảm xúc rõ rệt hơn. Nếu không được sự phản ảnh của thực tế thường xuyên nhiều trẻ mù không ý thức được bệnh tật của mình nên vẫn ươc mơ lớn lên sẽ trở thành, lái xe, danh thủ bóng đá, nhà quay phim, thậm chí muốn thành phi công du hành vũ trụ.

 

Trong quá trình dạy nghề, (dù là bó chổi, đan giỏ, kỹ thuật xoa bóp bấm huyệt hay công nghệ thông tin,)người hướng dẫn không được nóng vội vì đông tác thao tác của người mù còn  chậm chạp, vụng về, lóng ngóng, thiếu chính xác, các động tác thực hành phải được tập đi tập lại nhiều lần theo tinh thần cầm tay chỉ việc: Hướng dẫn từ từ, rõ ràng, đầy đủ, chính xác, đúng qui trình. Phải thận trọng nhắc nhở nhiều lần tỉ mỉ, chu đáo khi rèn luyện kỹ năng, tận dụng các khả năng phục hồi, bù trừ của các giác quan để hoạt động ngày càng phong phú hiệu quả.

Xem thêm: Cách giao tiếp với người khuyết tật

Khuyến khích họ tự tập luyện một mình để từng bước thành thạo kỹ năng thao tác trước khi có thể tự độc lập đảm nhiệm công việc. Giúp đỡ cho người  mù thiết thực nhất chính là bằng các hình thức phục hồi chức năng tại cộng đồng thông qua các mặt sinh hoạt, học tập, lao động, hoạt động… hàng ngày.

 

Cách giao tiếp với người khuyết tật

Khi bạn cần hoặc mong muốn giao tiếp với người khuyết tật thì trong bạn luôn có một cảm giác e ngại và lo lắng, bạn không biết người khuyết tật nghĩ gì và những lời nói, hành động của mình có ảnh hưởng tiêu cực tới người khuyết tật hay không? Có làm tổn thương người khuyết tật hay không? Những gợi ý sau đây sẽ giúp bạn giải tỏa được tâm lý e ngại khi giao tiếp với người khuyết tật.

Giới thiệu: Phục hồi chức năng cho người tàn tật

Cách giao tiếp với người khuyết tật
Cách giao tiếp với người khuyết tật(Ảnh minh họa)

Từ ngữ

Từ ngữ trong văn nói và trong văn viết mang sắc thái hoàn toàn khác nhau, nếu như văn viết chỉ đóng khung trong văn bản thì lời nói còn tùy thuộc và hoàn cảnh, tâm lý và môi trường giao tiếp. Những từ như người mù, người điếc có thể sử dụng trong văn viết như một danh từ chung để chỉ Hội người mù, hoặc chi hội người Điếc nhưng sử dụng trong khi giao tiếp với người khuyết tật thì bạn cần thận trọng, Hơn nưa bạn cũng nên lưu ý khi sử dụng cụm từ người khuyết tật và người bình thường, như vậy khi nói ngược lại người khuyết tật sẽ là người không bình thường.  Các bạn cũng không nên cắt nghĩa và giải thích từ ngữ và khẳng định là cách gọi nào đúng cách gọi nào sai mà điều quan trọng là mong muốn của người khuyết tật, họ muốn gọi họ như thế nào khi bạn giao tiếp với họ. Chúng ta có thể tham khảo bảng sau cho một số cụm từ thông dụng

Tích cực

Tiêu cực

Người khuyết tật trí tuệ, chứng tự kỷ

Chậm phát triển; tâm thần, điên

Người khiếm thị

Người mù, đui

Người khuyết tật

Người tàn tật, tàn phế, tật nguyền

Người khiếm thính, nghe kém

Người điếc, người câm điếc

Người có khuyết tật về thể chất, vận động

Què, cụt, dị dạng

Những gợi ý chung

– Hãy đối xử với người khuyết tật bằng sự tôn trọng, nghiêm túc và lịch sự

– Hãy lắng nghe

– Nếu bạn đề nghị hỗ trợ thì hãy kiên nhẫn chờ đợi khi đề nghị của bạn được chấp nhận, sau đó lắng nghe hoặc yêu cầu để được hướng dẫn. Không nhấn mạnh hoặc xúc phạm nếu đề nghị của bạn không được chấp nhận

– Đừng ngại đặt câu hỏi khi bạn không chắc chắn.

Những gợi ý

Bí quyết thành công khi giao tiếp với người khuyết tật cũng giống như đối với người không khuyết tật đó là giao tiếp dựa trên sự tôn trọng, nghiêm túc và lịch sự. Trình bay dưới đây là những gợi ý giúp bạn tự tin và thành công khi giao tiếp với người khuyết tật.

Tìm hiểu thêm: Kỹ năng giao tiếp với người khuyết tật

Những gợi ý khi giao tiếp với người khiếm thị (người mù)

– Hướng cuộc nói chuyện vào cá nhân người nghe

– Nêu rõ bạn là ai, và nói với tốc độ và ngữ điệu vừa phải (mặc dù người khiếm thị có thể nhớ rất lâu giọng nói của bạn)

– Khi trò chuyện trong một nhóm, hãy nhớ để xác định chính mình và người mà bạn đang nói.

– Không nên chạm vào hoặc vuốt ve một con chó dẫn đường mà không xin phép chủ sở hữu.

– Giới thiệu các cá nhân trong nhóm khi bạn nói chuyện.

– Đừng cố gắng để dẫn đường cho người khiếm thị bằng cách lôi kéo hoặc không đề nghị được giúp đỡ trước đó, trong trường hợp này bạn cho phép người khiếm thị nắm giữ cánh tay của mình và để họ tự đi.

– Hãy mô tả khi đưa ra phương hướng, bằng lời nói cung cấp cho các thông tin cho người khiếm thị một cách trực quan rõ rang. Ví dụ bạn đang đi trên nền nhà trơn trượt, còn bao nhiêu bước nữa là tới bậc cửa, lên bậc, chuẩn bị xuống bậc.

– Nếu bạn định chỉ chỗ ngồi cho một người khiếm thị thì bạn hãy nhẹ nhàng đặt tay của người đó lên lưng ghế để họ có thể xác định được vị trí của chỗ ngồi.

– Khi đi ăn cùng với người khiếm thị cần xác định vị trí các món ăn trên bàn.

Những gợi ý khi giao tiếp với người khiếm thính

– Hướng sự chú ý của người khiếm thính vào mình khi giao tiếp bằng cách vẫy tay.

– Nhìn trực tiếp vào người khiếm thính, để cho người khiếm thính nhìn thấy mặt của bạn, và nói chậm. Sử dụng câu ngắn, đơn giản. Tránh hút thuốc hoặc nhai kẹo cao su.

– Nếu người khiếm thính có một người  thông dịch viên ngôn ngữ ký hiệu, nói chuyện trực tiếp với người khiếm thính, không phải là thông dịch viên.

– Nếu bạn điện thoại cá nhân là khó nghe, hãy để điện thoại reo lâu hơn bình thường. Nói rõ ràng chậm.

– Nên sử dụng tin nhắn sms thay cho các cuộc gọi

– Nếu bạn sử dụng một cuộc gọi video thì bạn nên để màn hình điện thoại cách xa khuôn mặt của bạn chừng 50cm để người khiếm thính có thể nhìn được cả cử chỉ điệu bộ của bạn.

Những gợi ý khi giao tiếp với người khuyết tật vận động

Buổi giao lưu với người khuyết tật(

Buổi giao lưu với người khuyết tật(Ảnh minh họa)

– Nếu có thể, hãy đặt mình vào tầm mắt người sử dụng xe lăn.

– Đừng dựa vào xe lăn hoặc các thiết thiết bị trợ giúp của người khuyết tật các vật dụng khác.

– Đừng ra hiệu cho người khuyết tật sử dụng xe lăn bằng cách vỗ nhẹ vào đầu hoặc vai.

– Đừng cho rằng người khuyết tật sử dụng xe lăn muốn được đẩy xe mà không báo trước hoặc hỏi.

– Hãy đề nghị hỗ trợ nếu người khuyết tật gặp khó khăn ví dụ lên cầu thang hoặc mở một cánh cửa.

Xem thêm: Hướng dẫn kỹ năng sống cho người khuyết tật

– Nếu bạn gọi đến cho một người khuyết tật vận động thì để chuông reo lâu hơn bình thường cho phép thêm thời gian để người khuyết tật có thể tiếp cận với điện thoại.

Kỹ năng giao tiếp với người khuyết tật

Trước tiên cần phân biệt những từ ngữ để chỉ những người khuyết tật khác nhau. Người mù là người không còn nhìn thấy gì, người mắt kém thì thấy nhiều hơn một chút, từ có thể dùng chung để chỉ đối tượng kém mắt là “người khiếm thị”. Người khuyết tật về vận động là người gặp khó khăn trong việc đi lại ( mất chân… ). Người khiếm thính là người gặp khó khăn trong việc nghe, nói…Người khiếm thị vẫn có thể tự mình đi( trong địa bàn quen thuộc), dùng gậy để dò đường, người khiếm…

Giới thiệu: Phục hồi chức năng cho người tàn tật

Những điều cần biết khi giao tiếp với người khuyết tật « Bản Đồ Tiếp Cận

Nội dung Text: Kỹ năng giao tiếp với người khuyết tật

Kỹ năng giao tiếp với người khuyết tật Trước tiên cần phân biệt những từ ngữ để chỉ những người khuyết tật khác nhau. Người mù là người không còn nhìn thấy gì, người mắt kém thì thấy nhiều hơn một chút, từ có thể dùng chung để chỉ đối tượng kém mắt là “người khiếm thị”. Người khuyết tật về vận động là người gặp khó khăn trong việc đi lại ( mất chân… ). Người khiếm thính là người gặp khó khăn trong việc nghe, nói…Người khiếm thị vẫn có thể tự mình đi( trong địa bàn quen thuộc), dùng gậy để dò đường, người khiếm thị có thể đi xe bus. Có thể tự giặt giũ quần áo, nấu cơm và ăn cơm( trong mâm cơm, nếu giúp họ hình dung tốt về vị trí của các đĩa, bát thức ăn.. họ có thể tự gắp mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác)….! – Khi đi với người khiếm thị, mình sẽ không thể giúp họ bước được nhưng mình có thể hướng dẫn họ cách bước, mình sẽ là đôi mắt của họ, .

Thú thật là tớ chẳng biết trình bầy rõ ràng như thế nào cả vì tất cả những cái đó tớ thường tự cảm nhận là chính, vì thế không biết có nên gọi đây là kỹ năng không nhỉ? Tớ vẫn nói, làm những gì mà cảm thấy là mình nên nói, nên làm, không nói, không làm những điều mà tớ cảm thấy cần phải tránh (nói như… đúng rùi ấy 😐 )… Có lần tớ dẫn một bạn thành viên mới đến chỗ cô Ngọc (một người khiếm thị) để bạn ấy đèo cô đi học, có những điều gì cần phải dặn bạn ấy nhỉ? Trước tiên là phải chủ động lên tiếng trước( chào hỏi, giới thiệu tên mình để làm quen và cũng là để người khiếm thị nhận định được chỗ đứng của người nói chuyện..). Khi dắt xe hoặc chuẩn bị đi cần người khiếm thị đi theo hoặc trèo lên xe ngồi thì chỉ cần cầm tay họ và đặt vào sau xe( chỗ ngồi) , kèm theo một thông báo về công việc sắp làm “cô lên xe, 2 cô cháu mình đi”, nếu là xe máy thì có thể hướng dẫn hoặc chỉ chỗ để chân.

Khi đi cùng người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng thì điều nên tránh nhất là sự im lặng. Bạn bè chúng ta đi với nhau cả đoạn đường dài mà không nói với nhau lời nào thì nặng nề lắm. Nếu là lần đầu tiên gặp, có thể hỏi thăm đối tượng về tuổi tác, quê quán, gia đình, sở thích….bạn có thể nói về rất nhiều đề tài về thời tiết, học hành, chuyện thời sự( ca cẩm về giá xăng dầu tăng làm cái hàng bánh ngọt cạnh nhà nó… tăng giá chẳng hạn _hehe)… – Trò chuyện chứ không có nghĩa là phải hỏi, phải nói liên tục vì nói nhìu không khéo gây khó chịu cho đối tượng… tớ cũng không bít chính xác cái vụ nhiều ít này nhưng tớ thường hay lan man và nếu cảm thấy họ muốn dừng lại ở một chủ đề nào đó thì xoáy sâu khai thác, đã đúng cái mà đối tượng quan tâm thì mình sẽ phải nói rất ít, việc lắng nghe sẽ khiến ta hiểu thêm nhiều thứ và cái quan trọng nhất là 1 câu chuyện vui vẻ sẽ giúp 2 bên rút ngắn khoảng cách. – Đến địa điểm cần đến ta có thể thông báo “Cô/ chú ơi đến nới rồi ạ” có thể dắt xe và người khiếm thì đi đằng sau túm vào gác ba ga, vào chỗ yên sau… Bạn có thể chú ý đến đường đi hơn bình thường một chút, thông báo về các bậc thang lên xuống, độ dài, rộng,nông sâu… để người khiếm thị biết cách định hướng, cách bước đi.

Tìm hiểu: Hướng dẫn kỹ năng sống cho người khuyết tật

Đừng ngại khi chìa tay ra cho họ nắm Lúc nói chuyện với người khiếm thị hay người khuyết tật nói chung thì phải chú ý cái gì nhỉ? – Cần tránh để quá nhiều thời gian chết này, cần một thái độ thoải mái, cởi mở tự nhiên và không gò ép, gượng gạo( gọi là gì nhỉ.. nói thành tâm, khóc thật lòng và cười thoải mái ) này,… – Cần tránh dùng những từ mạnh mà chúng ta đôi khi vẫn bỗ bã bạn bè với nhau : thằng mù, con què, đứa câm… – Một thứ mà mọi người thường hay mắc khi tiếp xúc với người khiếm thị đó là hay mời “ em có ăn kẹo/ bánh… không? ”_ có đôi khi muốn nhưng nghe câu hỏi “có …không” câu trả lời lại là “không”, người miền Bắc mình có tính khách sáo và hay ngại lung tung mà

Xem thêm: Nâng cao kỹ năng sống cho người khuyết tật

Lúc đưa đồ cho người khiếm thị thì nên đưa tận tay cho họ, đôi khi chúng ta vẫn có thói quen chìa tay ra và bạn mình sẽ tự lấy đồ mà nhưng … người khiếm thị …khác mà Mong rằng kinh nghiệm của mình có thể giúp các bạn phần nào trong hoạt động. Rất mong nhận được những kinh nghiệm chia sẻ nhiều hơn nữa của các bạn.

Kỹ năng trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật

Các hình thức hoạt động trợ giúp pháp lý đều vì mục đích phục vụ nhân dân, hướng về cơ sở, vì quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân. Trợ giúp viên pháp lý vừa là tuyên truyền viên, vừa là tư vấn viên, vừa là hòa giải viên, đồng thời là một “luật sư công” để làm cầu nối đưa pháp luật vào cuộc sống với vai trò là người thi hành công vụ, được Nhà nước giao nhiệm vụ. Riêng đối với người khuyết tật, do những khó khăn về thể chất, đặc điểm tâm lý đặc thù nên cần có cách tiếp cận, kỹ năng hỗ trợ, tư vấn pháp luật phù hợp mới có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ một cách tốt nhất.

Giới thiệu: Kỹ năng giao tiếp với người khuyết tật

Một số kỹ năng trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật

Để Tư vấn pháp luật và Trợ giúp pháp lý miễn phí cho người khuyết tật có hiệu quả, tổ chức và người thực hiện tư vấn và trợ giúp pháp lý cần phải:

– Thực sự cảm thông với hoàn cảnh của người người khuyết tật. Muốn như thế tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý cần có “Tâm” trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý, cần có chuyên môn giỏi, nhiệt tình trong công việc, thấu hiểu tâm lý, tâm trạng của người được trợ giúp pháp lý. Người thực hiện trợ giúp pháp lý phải thấy rõ được trách nhiệm, nghĩa vụ của mình không phải bố thí ban ơn, tận tâm với công việc tôn trọng người được trợ giúp pháp lý.

– Nắm bắt được tâm lý của đối tượng: Người khuyết tật thuộc đối tượng yếu thế trong xã hội cho nên thường tự kỳ thị với chính bản thân họ, sống xa lánh mọi người, dễ bị tổn thương, dễ xúc động…. Họ thường là những người nghèo, tự ti trong cuộc sống nên thường ngại tiếp xúc với người khác

– Có kỹ năng thu thập thông tin, xử lý thông tin: Do đặc điểm tâm sinh lý nên người khuyết tật không dễ mở lòng mình hoặc do trình độ nhận thức, khả năng diễn đạt nên khó khăn trong việc cung cấp thông tin một cách đầy đủ và chính xác cho người thực hiện trợ giúp pháp lý. Khi đó, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải biết gợi mở, nắm bắt, đánh giá, xác nhận và xử lý thông tin để thu thập một cách đầy đủ và chính xác nhất nội dung cần trợ giúp.

Ky nang tro giup PL cho NKT 2

Tư vấn pháp luật cho người khuyết tật

 

Đặc biệt với những người bị các dạng tật phức tạp (như điếc thường đi kèm với câm) và cũng do họ chỉ thường sống ở môi trường hạn hẹp, giao tiếp ở mức tối thiểu với người xung quanh nên rất khó để giao tiếp, thu thập thông tin giúp đỡ pháp lý cho họ. Nếu người khiếm thị có sách nói, được học chữ nổi, những người khuyết tật chân, tay vẫn có thể giao tiếp bình thường với cộng đồng, có nhiều cơ hội học hỏi, tìm hiểu, nâng cao hiểu biết thì với người câm điếc chỉ có cách chuyển tải bằng cử chỉ, hình ảnh nhưng cách làm này cũng có rất nhiều hạn chế, cản trở khả năng hoà nhập cộng đồng của họ. Ngay những người được học ngôn ngữ của người khiếm thính cũng không thể chuyển tải hết nội dung muốn nói vì hiện tại, kho ký hiệu giao tiếp cho đối tượng này còn hạn chế.

– Nắm vững các qui định của pháp luật

– Có kỹ năng giao tiếp với từng dạng tật của khách hàng: Ví dụ như: khi tiếp xúc với người khiếm thính, cán bộ trợ giúp pháp lý nên nói với âm lượng bình thường, họ sẽ đọc được khẩu hình của chúng ta hoặc ngôn ngữ cơ thể, tránh một số từ nhạy cảm: què, cụt, điên…; luôn tôn trọng không gian cá nhân và các vật dụng của người khuyết tật. Khi tiếp xúc với người khuyết tật vận động, cán bộ trợ giúp pháp lý nên tìm địa điểm tiếp cận, khi ngồi nói chuyện với người đi xe lăn, các cán bộ trợ giúp pháp lý nên đề tầm mắt của mình ngang với họ…

– Phải chủ động tìm đến người khuyết tật: Do có những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần nên người khuyết tật thường mặc cảm, không dám tự tin xuất hiện trước mọi người, đồng thời họ không thể vận động bình thường như những người khác nên nhiều trường hợp họ không thể thực hiện các thủ tục pháp lý. Vì vậy, việc trợ giúp pháp lý không chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn, tư vấn mà người thực hiện trợ giúp pháp lý đến tận nơi ở (gia đình, trung tâm bảo trợ…) của người khuyết tật (đối với người khuyết tật nặng không thể đi lại) để giúp đỡ họ hoàn thành hồ sơ, tìm hiểu, thực hiện tư vấn.

– Cần cộng tác và sự trợ giúp của các thành viên của tổ chức, hội, nhóm người khuyết tật

– Phải có mối liên hệ với các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong việc tư vấn và trợ giúp pháp lý miễn phí cho người khuyết tật

Tìm hiểu: Đào tạo kỹ năng làm việc với người khuyết tật cho công chức nhà nước

Nâng cao kỹ năng tư vấn pháp luật cho cán bộ Hội

Luật Trợ giúp pháp lý quy định công dân Việt Nam đáp ứng đủ yêu cầu theo quy định; có bằng cử nhân luật hoặc bằng đại học khác làm việc trong các ngành, nghề có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân sẽ được Giám đốc Sở Tư pháp xem xét, công nhận và cấp thẻ cộng tác viên. Cộng tác viên không phải là Luật sư chỉ tham gia trợ giúp pháp lý bằng hình thức tư vấn pháp luật và tham gia trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước. Tổ chức Hội cần liên hệ, đề xuất với ngành tư pháp và trung tâm trợ giúp pháp lý để phân công cán bộ tham gia trợ giúp pháp lý cho đối tượng bảo trợ của mình bằng hình thức tư vấn pháp luật theo quy định trên đây.

Luật Trợ giúp pháp lý quy định các hình thức trợ giúp pháp lý gồm: Tư vấn pháp luật; Tham gia tố tụng; Đại diện ngoài tố tụng; Các hình thức trợ giúp pháp lý khác. Chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý được quy định trong Luật Trợ giúp pháp lý hiện chưa tính đến vai trò, khả năng trợ giúp pháp lý của các tổ chức xã hội trong khi thực tiễn hoạt động của các tổ chức xã hội vẫn tham gia đóng góp cho hoạt động này. Vì thế, hoạt động hỗ trợ pháp lý đối với người khuyết tật của Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam và các tổ chức thành viên hiện chỉ tập trung ở phần việc tư vấn, tuyên truyền nâng cao hiểu biết pháp luật cho đối tượng và hỗ trợ một số thủ tục hành chính. Những hoạt động hỗ trợ này cũng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và khả năng đáp ứng của Hội.

* Hoạt động tư vấn pháp luật cho người khuyết tật bao gồm: Giải đáp pháp luật, hướng dẫn soạn thảo, góp ý kiến cho đơn từ, văn bản có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật, hướng dẫn những thủ tục cần thiết, cung cấp địa chỉ cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc, cung cấp những thông tin pháp lý, đưa ra những lời khuyên về những vấn đề có liên quan đến pháp luật và hướng dẫn đối tượng ứng xử phù hợp với pháp luật nhằm giúp cho người yêu cầu tư vấn nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức pháp luật để họ thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

* Kỹ năng tư vấn pháp luật trong hoạt động trợ giúp pháp lý gồm:

+ Kỹ năng thụ lý vụ việc;

+ Kỹ năng tiếp đối tượng và nghe đối tượng trình bày;

+ Kỹ năng yêu cầu đối tượng cung cấp giấy tờ liên quan đến vụ việc; xem xét, xác minh, thu thập chứng cứ (nếu thấy cần thiết) để hiểu rõ bản chất vụ việc và vướng mắc của đối tượng;

+ Kỹ năng tra cứu tài liệu pháp luật, tìm cơ sở pháp lý để giải thích, hướng dẫn phù hợp với pháp luật;

+ Kỹ năng soạn thảo văn bản tư vấn cho đối tượng;

+ Kỹ năng vận dụng kiến thức pháp luật, đạo đức xã hội để tư vấn, giải đáp, hướng dẫn, đưa ra lời khuyên, đưa ra giải pháp, định hướng cho đối tượng tháo gỡ vướng mắc pháp luật, xử sự phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội;

+ Kỹ năng lập hồ sơ, lưu trữ hồ sơ tư vấn pháp luật.

Các kỹ năng tư vấn pháp luật cơ bản trên đây có quan hệ mật thiết, biện chứng, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau và được sử dụng trong suốt quá trình tư vấn một vụ việc cụ thể với một đối tượng cụ thể. Thông thường, để tiến hành tư vấn một vụ việc, người tư vấn phải tiếp đối tượng (nghiên cứu hồ sơ vụ việc); nghe các bên tranh chấp trình bày, yêu cầu đưa ra tài liệu có liên quan đến yêu cầu tư vấn. Trong trường hợp cần thiết phải tiến hành xem xét, xác minh vụ việc; tra cứu tài liệu pháp luật, tham khảo các nhà chuyên môn và vận dụng kiến thức pháp luật và kinh nghiệm cuộc sống để tư vấn, giải thích, hướng dẫn đối tượng úng xử phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội.

Xem thêm: Hướng dẫn kỹ năng sống cho người khuyết tật

* Tư vấn pháp luật không phải là tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật một cách chung chung hoặc chuyển tải thông tin về các văn bản pháp luật mới, bởi đối tượng của hoạt động tư vấn pháp luật là một tổ chức hoặc cá nhân cụ thể; nội dung tư vấn có liên quan đến một vụ việc cụ thể theo yêu cầu của đối tượng. Thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, người tư vấn tuyền truyền, phổ biến pháp luật có liên quan trực tiếp đến vụ việc cụ thể đó nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng. Hoạt động tư vấn pháp luật cũng giúp cho người được tư vấn hiểu được đúng bản chất về quyền và nghĩa vụ của mình để thực hiện pháp luật và ứng xử phù hợp với pháp luật, ngăn ngừa vi phạm pháp luật.

Nâng cao kỹ năng sống cho người khuyết tật

Với bất kỳ ai, dù khuyết tật hay không, kỹ năng sống đều có vai trò quan trọng trong giao tiếp, tư duy, trong giáo dục, việc làm… Riêng đối với người khuyết tật, quá trình hòa nhập họ thường gặp biết bao khó khăn từ vật chất, khiếm khuyết cơ thể và đặc biệt là mặc cảm bản thân. Vì vậy, việc trang bị kỹ năng sống là cách để người khuyết tật đối diện, vượt qua những thách thức của cuộc sống, tự tin hòa nhập cộng đồng.

Giới thiệu: Kỹ năng trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật

Vai trò của kỹ năng sống với người khuyết tật

Kỹ năng sống được hiểu là khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) kỹ năng sống được chia thành 2 loại là kỹ năng tâm lý xã hội và kỹ năng cá nhân, lĩnh hội và tư duy với 10 yếu tố như: tự nhận thức, tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử với người khác, ứng phó với các tình huống căng thẳng và cảm xúc, biết cảm thông, tư duy bình luận và phê phán, cách quyết định, giao tiếp hiệu quả và cách thương thuyết.

Kỹ năng sống cũng giống như “kinh nghiệm”, “nguồn vốn” của mỗi người khi tham gia đời sống xã hội. Người nào có càng nhiều “vốn” thì có thể tham gia được càng nhiều hoạt động, lĩnh vực, khả năng kết nối càng được mở rộng. Đối với người khuyết tật, vốn là những người yếu thế, do mặc cảm về khiếm khuyết của mình nên họ thường sống khép kín, ít giao tiếp, va chạm với cuộc sống bên ngoài, việc trang bị kỹ năng sống lại càng có vai trò quan trọng, đặc biệt trong thời đại công nghệ và hội nhập quốc tế như hiện nay. Với nguồn “vốn” được trang bị phù hợp với lứa tuổi, giới tính, nhu cầu… Người khuyết tật sẽ thêm tự tin vào bản thân mình, tìm tự tin tìm kiếm cơ hội học tập, việc làm, giao lưu, kết bạn từ đó dễ dàng hòa nhập cộng đồng…

Anh 1 Nang cao ky nang song cho NKT

Đối với người khuyết tật đang trong tuổi học sinh, kỹ năng sống là hành trang quan trọng để các em tham gia giáo dục hòa nhập, tự tin hòa nhập cộng đồng

 

Nhận thức rõ vaitrò của kỹ năng sống đối với người khuyết tật trong quá trình hòa nhập cộng đồng, bên cạnh các chính sách về y tế, giáo dục, việc làm, giao thông, tiếp cận…. những năm qua, Đảng, nhà nước ta luôn quan tâm, tạo điều kiện để người khuyết tật được học tập, giáo dục kỹ năng sống. Kể từ khi Luật người khuyết tật và các văn bản dưới Luật được ban hành, người khuyết tật Việt Nam đã được quan tâm, tạo điều kiện để hòa nhập và phát triển. Đặc biệt, vấn đề trang bị kỹ năng sống cho người khuyết tật cũng đã được đưa vào các văn bản pháp luật với các mục tiêu cụ thể. Trong đó, Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020 đề ra mục tiêu đến năm 2020 có 50% người khuyết tật được tập huấn các kỹ năng sống.

Thực hiện Đề án, với tinh thần tương thân tương ái và sự cảm thông sâu sắc với những khó khăn của người khuyết tật trong việc hòa nhập với cuộc sống, và với mục đích hướng tới sự phát triển khỏe mạnh về tâm lý và xã hội của cộng đồng yếu thế, các tổ chức xã hội, tổ chức của người khuyết tật và vì người khuyết tật và các địa phương trong cả nước đã tổ chức nhiều buổi tập huấn, hướng dẫn kỹ năng sống cho trẻ khuyết tật và người khuyết tật trưởng thành. Trong đó, các kỹ năng sống độc lập, phục vụ cho cuộc sống bản thân người khuyết tật như: kỹ năng chấp nhận sự khuyết tật và xác định giá trị bản thân, tự nhận thức bản thân và xây dựng lòng tự trọng, kỹ năng tìm kiếm việc làm… được quan tâm, chú trọng.

Tìm hiểu: Lời khuyên về việc làm cho người khuyết tật

Các kỹ năng cần thiết để người khuyết tật hòa nhập cộng đồng

Đối với người khuyết tật còn trong độ tuổi học sinh, nhất là các em được học tập trong các trường chuyên biệt, hầu hết các em đều học nội trú xa gia đình, các em phải học cách tự chăm sóc bản thân, làm quen và tự tin trong môi trường học tập hòa nhập. Học sinh khiếm thị được học kỹ năng định hướng di chuyển, cách xác định phương hướng, vị trí của các vật khi di chuyển trong không gian để có thể tự đi lại một mình. Đặc biệt, việc giáo dục giới tính cho học sinh khuyết tật cần được chú trọng, có sự tham gia hướng dẫn, giảng dạy của các chuyên gia tư vấn tâm lý, giáo viên sinh học, phiên dịch ngôn ngữ ký hiệu… nhằm cung cấp cho các em những thông tin đầy đủ, chính xác về giới tính, sức khỏe sinh sản, về đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi. Bởi các em đang trong độ tuổi “lỡ cỡ”, việc nảy sinh tình cảm giữa các học sinh khác giới là không thể tránh khỏi, trang bị kỹ năng giúp các em nhận thức đúng vấn đề, giữ được giới hạn trong chuyện tình cảm.

Với người khuyết tật trưởng thành, kỹ năng sống là điều kiện cần và đủ để họ lựa chọn, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về những vấn đề có liên quan tới cuộc sống của chính mình và phục vụ cộng đồng như các công dân khác trong xã hội. Các kỹ năng xác định các giá trị và tự nhận thức, kỹ năng tư duy tích cực, quản lý cảm xúc, quản lý thời gian, kỹ năng xác định mục tiêu và hướng nghiệp, kỹ năng lập kế hoạch, chăm sóc sức khỏe sinh sản, giới tính để tránh bị lạm dụng tình dục…

Kỹ năng làm chủ bản thân giúp người khuyết tật trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng giữ được thái độ bình tĩnh, tự tin. Trong cuộc sống, với khiếm khuyết trên cơ thể, không ít người khuyết tật gặp phải sự bất tiện, có lúc là thái độ không thiện cảm của những người xung quanh. Nếu như lúc đó, người khuyết tật không làm chủ được bản thân, để cảm xúc nhất thời lấn át, họ có thể sẽ khó chịu, tức giận và phản kháng thái quá hoặc chấp nhận sự kỳ thị, từ đó càng thêm mặc cảm, thu mình lại. Nhưng khi có kỹ năng kiềm chế bản thân, họ sẽ biết cách xử lý sự việc một cách hợp lý, vừa hài hòa mối quan hệ, vừa giữ vững được vị thế của mình.

Xem thêm: 10 chú ý khi giao tiếp với người khuyết tật

Hiện nay, phong trào sống độc lập trong cộng đồng người khuyết tật tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, các Trung tâm Sống độc lập được xây dựng tại một số thành phố lớn trong cả nước đã góp phần tích cực trang bị kỹ năng để người khuyết tật có thể sống độc lập mà khi sống cùng gia đình hoặc tại các cơ sở chăm sóc họ không được trải nghiệm. Thông qua các buổi tham vấn đồng cảnh, chính người khuyết tật tại các Trung tâm đã giúp cho nhiều người khuyết tật khác lấy lại sự tự tin và ý thức về khả năng và giá trị của mình, tự lập ra được kế hoạch tài chính, cách giao tiếp, nấu ăn, nâng cao năng lực (kỹ năng quản lý, lập kế hoạch, điều phối, làm việc theo nhóm, vận động ủng hộ, tổ chức sự kiện…). Từ đó, giúp người khuyết tật nỗ lực vượt qua mặc cảm để khẳng định mình, tự tin vươn lên trong cuộc sống.

Hướng dẫn kỹ năng sống cho người khuyết tật

Cùng với cả nước, việc thực hiện Luật Người khuyết tật và công tác chăm sóc, trợ giúp người khuyết tật là hoạt động thường xuyên được quan tâm.

Thời gian qua, các cơ sở có người khuyết tật trên địa bàn tỉnh đã tổ chức các hoạt động trợ giúp cho người khuyết tật nghe, nhìn rất hiệu quả.

Giới thiệu: Nâng cao kỹ năng sống cho người khuyết tật

Hướng dẫn kỹ năng dò đường cho người khiếm thị

Người khiếm thị gặp rất nhiều khó khăn trong đi lại vì họ khó hình dung được các chướng ngại vật xung quanh. Với mục đích giúp cho người khuyết tật nhìn di chuyển thuận lợi và đạt hiệu quả cao hơn đồng thời sử dụng gậy hỗ trợ dò đường như 1 cánh tay nối dài để tránh các chướng ngại vật trên đường, đoán được tính chất đồ vật khi chạm vào, Trung tâm Bảo trợ xã hội đã tổ chức buổi học hướng dẫn kỹ năng di chuyển cho người khuyết tật nhìn vào chiều ngày 31/7/2019.

Hướng dẫn kỹ năng sống cho người khuyết tật - Hình 1

Hướng dẫn kỹ năng dò đường cho người khiếm thị

Hiện nay Trung tâm Bảo trợ xã hội có 6 trường hợp khuyết tật nhìn, bản thân họ khi di chuyển cần sự hỗ trợ từ người khác. Để giúp cho họ chủ động di chuyển trong phòng ở và các khu sinh hoạt chung, nhân viên Công tác xã hội đã hướng dẫn các kỹ năng dò đường cần thiết qua sử dụng gậy như nguyên tắc chọn gậy tiêu chuẩn, tư thế cầm gậy, hướng vung tay dò đường, định hình hướng âm thanh, di chuyển địa hình đường bằng, leo dốc thoải, leo cầu thang.

Buổi học có sự tương tác của các thành viên tham gia. Thông qua buổi học, người khuyết tật nhìn biết mình từ đâu đến, đang đi ở đâu trong không gian, sắp đi đến đâu. Người khuyết tật nhìn được làm quen với các động tác sinh hoạt hằng ngày như định hướng, xác định tính chất đồ vật, xác định hướng âm thanh để phục vụ sinh hoạt. Đặc biệt, thông qua buổi học giúp người khuyết tật nhìn di chuyển độc lập, an toàn, có hiệu quả trong môi trường trong nhà, trong khuôn viên và khu sinh hoạt cộng đồng.

Buổi học là một trong những buổi thực hành công tác xã hội hiện nay đang được duy trì với các nhóm công tác xã hội đặc thù để giúp cho thành viên trong nhóm đạt được mục đích nhóm.

Tìm hiểu: Cách giao tiếp với người khuyết tật

Giáo dục kỹ năng sống và giáo dục giới tính cho trẻ khiếm thính.

Với mục tiêu giúp cho học sinh thay đổi những thói quen, từ hành vi tiêu cực, thụ động chuyển sang chiều hướng suy nghĩ chủ động, tích cực, tự tin, tự quyết định và có trách nhiệm quyết định của bản thân, Cơ sở Bảo trợ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Quảng Ninh đã triển khai chương trình giáo dục kỹ năng sống và giáo dục giới tính cho trẻ khiếm thính.

Hướng dẫn kỹ năng sống cho người khuyết tật - Hình 2

Lớp học kỹ năng sống cho trẻ khiếm thính

Chương trình giáo dục kỹ năng sống và giáo dục giới tính cho trẻ khiếm thính giúp trẻ có thể nhận diện, phòng tránh, ứng phó với các hành vi lạm dụng và quấy rối tình dục khi hòa nhập xã hội; phân biệt được các hành vi nào là không phù hợp ở nơi công cộng, các ứng xử nào sẽ phá vỡ các mối quan hệ, lòng tin và lòng tự trọng. Đồng thời, tạo ra cơ hội để trẻ em thực hiện quyền, bổn phận của mình, phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.

Buổi học đầu tiên bắt đầu với nhiều cảm xúc. Khi bắt đầu buổi học, đa số các em đều e dè, ngại ngùng, thậm chí lảng tránh với những vấn đề nhạy cảm, tế nhị. Sau khi được giáo viên truyền đạt kiến thức, các em đều học tập sôi nổi và hào hứng, mạnh dạn trao đổi những hiểu biết của mình về nội dung mà giáo viên đặt ra.

Xem thêm: Kỹ năng giao tiếp với người khuyết tật

Sau các buổi học, các em đã có tâm lý thoải mái và cho biết rất thích học kĩ năng sống và giáo dục giới tính; các em học sinh cảm thấy có sự tự tin trong chia sẻ, tiếp nhận thông tin và mong chờ những buổi học tiếp theo.

10 chú ý khi giao tiếp với người khuyết tật

1. Khi nói chuyện với người khuyết tật nên nói trực tiếp với người đó hơn là thông qua phiên dịch ngôn ngữ hay người cùng đi.

Giới thiệu: Hướng dẫn kỹ năng sống cho người khuyết tật

2. Khi được giới thiệu với một người khuyết tật, chìa tay ra bắt là điều thích hợp. Với những người hạn chế trong việc sử dụng tay hoặc người sử dụng tay giả vẫn có thể bắt tay theo cách thông thường. (Bắt tay với tay trái cũng là chào hỏi)

3. Khi gặp gỡ với người khiếm thị, luôn luôn chủ động giới thiệu về mình và những người đi cùng. Khi nói chuyện trong một nhóm, nhớ gọi tên người bạn muốn nói chuyện cùng.

4. Nếu bạn muốn giúp đỡ NKT, hãy chờ cho đến khi người được giúp đỡ chấp nhận lời đề nghị. Sau đó lắng nghe hướng dẫn hoặc hỏi về cách trợ giúp.

5.Đối xử với người lớn đúng như độ tuổi của họ. Xưng hô với người khuyết tật bằng tên của họ giống như cách bạn gọi tên mọi người. (Đừng bao giờ đối xử với người ngồi xe lăn bằng cách vỗ vào đầu hay vai của họ.)

Tìm hiểu: Nâng cao kỹ năng sống cho người khuyết tật

6. Bám hoặc dựa vào xe lăn của NKT cũng đồng nghĩa như bám hoặc dựa vào người khác và như thế là đã làm phiền họ. Xe lăn như một phần thân thể của người sử dụng chúng.

7. Hãy lắng nghe một cách chăm chú khi bạn nói chuyện với người khó khăn về ngôn ngữ. Kiên nhẫn chờ đến khi họ kết thúc câu chuyện, không nên ngắt lời giữa chừng hoặc nói hộ phần của họ. Nếu cần thiết nên đặt câu hỏi ngắn để có được câu trả lời ngắn, như là lắc đầu hay gật đầu. Đừng bao giờ giả bộ hiểu nếu như bạn thấy khó hiểu, thay vào đó bạn có thể nhắc lại những điều bạn đã hiểu và để cho người nói xác nhận. Việc phản hồi đó sẽ giúp bạn hiểu được thông tin rành mạch hơn.

8. Khi nói chuyện với người sử dụng xe lăn hoặc là dùng nạng, để thuận tiện cho cuộc nói chuyện bạn nên đứng ngang tầm mắt và trước mặt người đối thoại.

9. Muốn thu hút được sự chú ý của người khiếm thính, vỗ nhẹ lên vai họ hoặc là vẫy tay ra hiệu. Nhìn thẳng vào họ, nói rõ ràng, chậm rãi và diễn cảm với người có thể đọc cử động môi. Tuy nhiên không phải tất cả những người khiếm thính đều có thể đọc được cử động môi. Đối với những người có khả năng đọc hãy chú ý hơn bằng cách quay mặt ra chỗ sáng, tránh dùng tay, không hút thuốc hay ăn uống trong khi nói.

Xem thêm: Kỹ năng trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật

10. Hãy thoải mái, đừng lúng túng nếu vô ý dùng những từ biểu cảm thông thường như: “Hẹn gặp lại” hoặc “Anh đã từng nghe về chuyện đó chưa?”, những điều này dường như liên quan đến khiếm khuyết của họ. Đừng ngại đưa ra những câu hỏi nếu bạn không chắc chắn sẽ phải làm gì.